CÁ KOI VIETNAM

GUIDE TO NISHIKIGOI LIFE

Lịch sử “Kim ngư” Trung Quốc / Koi Historia – 007

Ngoài “Nishikigoi” có nguồn gốc từ Nhật, “Kim ngư” (trong bài viết này tạm gọi “Cá chép vàng”) có nguồn gốc từ Trung Quốc có mặt ở bất cứ đâu ở Đông Á cũng là một niềm tự hào với thế giới khi nói về cá cảnh. Trong tập này, chúng tôi muốn giới thiệu với những người yêu Koi về hiện trạng cũng như tổng quan về loài Cá chép vàng Trung Quốc này.

Sự giao lưu của Cá chép vàng Nhật – Trung

Về thời điểm đến Nhật của Cá chép vàng thì trong “Kim Ngư dưỡng ngoạn thảo” (năm 1748) (tạm dịch: ghi chép nuôi Cá chép vàng) có nói là vào năm 1502. Tuy nhiên với những con như “Tam Vĩ” có hình dáng biến đổi khi thay đổi góc nhìn mới ở Trung Quốc mới chỉ bắt đầu vào giữa cuối thế kỷ 16, vậy nên thời điểm năm 1502 ở Trung Quốc cũng chỉ có Cá vàng. Nhưng cho dù giống Cá vàng đó được cho là có đột biến xảy ra ở tần suất cao trong những con xuất hiện đột biến đã đến Nhật đi chăng nữa, thì không phải chuyện này chỉ có ở Trung Quốc mà ở Nhật cũng chắc chắn có chuyện tương tự xảy ra, nên không ai mất công đem chúng từ Trung Quốc về làm gì. 

Theo Yamato Kotohajime (1683), Cá vàng Tam Vĩ đến Nhật (và ở Nhật bắt đầu nuôi chúng) là vào đầu thời Edo khi mà thời thế đã ổn định (đầu thế kỷ 17), mốc thời gian này nghe có vẻ hợp lý nhất.

Cá chép vàng thời Edo

Cá chép vàng từ Trung Quốc đến Nhật rồi ổn định từ đầu thế kỷ 17 (đầu thời Edo) như phía trên đã có đề cập. Còn Cá chép vàng được xem là giống hiếm được buôn bán trên thuyền là: 

– Ryukyu (tên Trung Quốc là Lưu Kim hay Văn Ngư)

– Oranda (tên trung Quốc là cá vàng đầu lân Oranda hay Cao Đầu)

– Ranchu (tên Trung Quốc là Ranchu hay Hổ Đầu)

Những thương nhân đã tự động lấy tên nước ngoài đặt cho hợp với hoàn cảnh. Ngoài ra, đồ đựng cá cũng bằng thủy tinh thổi để khơi dậy sở thích mới lạ về hàng nước ngoài đến bằng thuyền cho sự xuất hiện mang cảm giác tươi mới. 

Đến giữa thời Edo, người ta nuôi chúng trên những cánh đồng, hướng đến tầng lớp phổ thông mà gia tăng sản xuất với giá thành rẻ. Ngày nay khung cảnh này đã trở thành một phần của không khí vào hè ở Nhật.  

Tranh 2/ Bức vẽ của Watanabe Kazan về mua bán. Cá chép vàng giữa thời Edo.

“Giống Cá chép vàng” từ Nhật được nhập khẩu

Kể từ giữa thời Edo của Nhật, Cá chép vàng cũng chỉ là một loại “hàng phổ thông” dành cho đối tượng chính là con nít và được nuôi tại ruộng, rồi sau đó người ta mới lập ra một hệ thống nuôi với mục tiêu gia tăng sản lượng, nâng cao chất lượng với giá cả phải chăng. Từ năm Minh Trị thứ 10, chúng được tập hợp lại với một số lượng nhất định để xuất khẩu chủ yếu đến Mỹ bằng đường thủy. Một số ít Cá chép vàng cao cấp của Nhật và giống cá của Trung Quốc khác được các thuyền viên và thủy thủ tàu mua với tư cách cá nhân và đem về nước họ. 

Nếu nói về Cá chép vàng “hàng phổ thông” được sản xuất mở rộng từ giữa thời Edo thì chỉ có “Wakin” và “Ryukin”. Người ta còn nói rằng “Demekin” (Cá mắt lồi) lần đầu đến Nhật là từ đầu năm Minh Trị thứ 28. Còn “Ranchu” và “Oranda” thì cũng giống như cách nuôi giống cá Nhật Bản cao cấp khác mà chủ yếu được nuôi và chăm sóc trong những ao nhỏ. 

Tranh 2 (Nhất Tảo Bách Thái) (tạm dịch: trăm kiểu dọn dẹp) xuất bản năm 1818 là một tập tranh của Watanabe Kazan vẽ lại hoạt động của dân thường, trong có có hoạt động mua bán Cá chép vàng trong một chiếc lá. Ở Nhật thì tại thời điểm này Cá chép vàng đang là thú cưng của những đứa con nít. 


Bài: Naoji Takanashi / Ảnh: Gekkan Nishikigoi
Dịch: & Ca Koi Vietnam