Ý nghĩa và những tác động đến sức khỏe Nishikigoi
Nhiều người nghĩ rằng, lọc chính là loại bỏ các chất thải lớn, mà rác thải lớn thì được cống chặn lại. Vì thế họ thường chỉ vệ sinh cống 2 tuần/lần vào mùa hè. Do đó họ rất ngạc nhiên khi tôi nói: “Rác kẹt lại ở cống có nghĩ là nước đang không được lọc”. Điều này, chính tôi cũng không được dạy ở trường đại học.
Chúng ta hiếm khi ý thức được sự hiện diện của vi khuẩn trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng vẻ đẹp của hành tinh này được tạo ra bởi chính sự thanh lọc của vi khuẩn. Nếu nhận biết được sự tồn tại của vi khuẩn, chúng ta có thể tạo ra một môi trường sống tốt hơn, ít bệnh tật và phát triển nhanh hơn.
Nguyên tắc cơ bản nhất của quản lý nuôi trồng thủy sản chính là làm thế nào để duy trì chất lượng nước tốt. Đặc biệt đối với nuôi trồng mật độ cao, việc quản lý chất lượng càng trở nên quan trọng. Muốn làm tốt được điều này, người nuôi cần nắm vững kiến thức về điều kiện môi trường sinh trưởng tốt cho cá. Vì môi trường nước tác động rất lớn đến sức khỏe của loài cá.
Đa số các bệnh ở cá phát sinh khi môi trường nước thay đổi theo chiều xấu đi. Vì vậy, việc làm sạch và lọc có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nếu không trang bị đầy đủ những kiến thức này thì sẽ không tránh khỏi phát sinh bệnh tật do ảnh hưởng của môi trường nước.

Chủ tịch Kentaro Sakai của Sakai Fish Farm – nơi đang sử dụng các sản phẩm Shinsuke dành cho Koi.
Đặc điểm của nước máy và nước ngầm
Độ an toàn, độ pH, hàm lượng khoáng chất…
Về nước máy
Hai nguồn nước chủ yếu được sử dụng trong nhân giống Nishikigoi chính là nước ngầm và nước máy. Nguồn nước máy của Nhật hiện nay được xử lý bằng công nghệ hiện đại và kỹ thuật cao, sau đó được phân phối qua các đường ống và vòi nước.
Tuy nhiên, độ pH của nước thay đổi theo mùa. Nguyên nhân là do độ pH của nguồn nước thô ban đầu (nước từ sông suối) thay đổi tùy thuộc vào lượng mưa.
Đối với nguồn nước máy, có lẽ yếu tố đầu tiên mà mọi người quan tâm chính là Clo. Bạn có thể khử Clo bằng các chất tẩy đang được bán trên thị trường. Ngoài ra, Clo còn có thể được loại bỏ khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời trong thời gian nửa ngày.
Tuy nhiên, vì nước đã qua xử lý thiếu hàm lượng khoáng chất nên độ dẫn điện của nước cũng bị giảm (độ dẫn điện cũng là một trong những yếu tố quan trọng, nhưng tôi sẽ bỏ qua trong bài viết này). Về khoáng chất sẽ được giải thích rõ hơn ở phía dưới.
Về nước ngầm
Nước ngầm có chứa hàm lượng khoáng chất cao. Các ion thường gặp là Na+, K+, Mg2+, Ca2+, HCO3-, Cl-, SO4 2- … Vì dòng nước chảy qua các lỗ hổng và khe nứt nên được thẩm thấu các khoáng chất trong lòng đất. Do đó, chất lượng nước cũng có sự thay đổi giữa các vùng đất khác nhau.
Tôi nhớ trước đây đã từng kiểm tra chất lượng nước ngầm của hai trang trại ở Niigata, nước ngầm của công ty A có độ pH là 5.0 và của công ty B là 7.2. Dù vậy, nguồn nước của cả hai nơi đềåu có thể sử dụng được. Độ pH 5.0 quá chua và có thể khiến lớp màng nhầy của Koi bị bong ra nhưng có thể sử dụng được nguồn nước này vì độ kiềm kH ổn định ở mức 3.0.
Độ kiềm trong nước là nồng độ các ion Hydro cacbonat (HCO3-). Ion này hoạt động giống như một chất chống lại sự thay đổi đột ngột của pH. Ngay cả khi chất thải trong hồ làm tăng tính axit, ion Hydro cacbonat sẽ giữ độ pH ở mức ổn định. Ngoài ra, sục khí cũng giúp tăng độ pH. Khi cho nước ngầm có độ pH thấp như trên vào xô rồi sục khí thì sau 12 tiếng pH tăng lên 7.8 (thí nghiệm được thực hiện vào buổi tối nên chỉ có thể đo được vào ngày tiếp theo). Khoảng thời gian thực tế có lẽ sẽ ngắn hơn một chút. Nhân tiện, nước máy ở thành phố Hiroshima có độ pH là 7.0 và kH là 0.5. Trong cùng một thí nghiệm, độ pH chỉ tăng lên 7.5.
Lý do chúng tôi hay khuyên mọi người “Hãy sục khí vào bể lọc đi” không chỉ vì sự sinh sôi của vi khuẩn và để duy trì sự sống của cá mà còn giúp hạn chế tình trạng pH giảm.
—
Do nước ngầm không tiếp xúc với không khí nên lượng khí hòa tan cũng có sự thay đổi. Nếu trong nước có chứa chất hữu cơ, vi khuẩn sẽ phân giải nó. Khi đó oxy được tiêu thụ và tạo ra CO2. Vì nằm sâu dưới lòng đất, không có nguồn cung cấp oxy, CO2 được tạo ra cũng được cung cấp cho nước ngầm. Do đó, độ pH sẽ thấp.
Ngoài ra, vi sinh sống trong đất phân hủy và chuyển hóa nitrit thành nitrat. Chất này hòa tan trong nước và theo mưa thấm xuống lòng đất làm tăng nồng độ nitrat trong nước ngầm, còn độ pH giảm xuống.
Nước ngầm có thể chứa độ cứng cao và dễ bị ô nhiễm bởi thuốc trừ sâu và nước thải sinh hoạt, vì thế cần kiểm tra nguồn nước kỹ lưỡng trước khi sử dụng. Nước ngầm ở những nơi phân bón hóa học chảy qua có chứa một lượng lớn nitơ và photpho.
Nước luôn chuyển động và chất lượng của các nguồn nước ngầm khác nhau tùy thuộc vào vị trí. Đây là hai điểm cần phải ghi nhớ.
Về nhiệt độ nước
Dựa theo nhiệt độ nước có thể chia cá nước ngọt thành 3 loại: nước lạnh (5 – 18°C), nước ấm (15 – 25°C) và nhiệt đới (23 – 30°C). Cá là động vật biến nhiệt và có khả năng điều chỉnh thân nhiệt theo nhiệt độ nước. Nhân tiện, con người là động vật hằng nhiệt và nhiệt độ cơ thể luôn không đổi.
Về cơ bản, động vật biến nhiệt sinh sống ở vùng lạnh sẽ trở nên nhỏ hơn so với khi sống ở vùng nóng. Lúc còn ở Thái Lan, tôi đã bị choáng ngợp bởi tốc độ phát triển của những con cá vàng. Chúng lớn gấp 3 lần so với cá ở Nhật Bản. Hoặc ví dụ như các loài bò sát sống ở gần đường xích đạo như thằn lằn Komodo, trăn gấm, trăn Anaconda… Nishikigoi cũng tăng trưởng khá nhanh vào mùa hè, có thể do nhiệt độ nước và vì có nhiều sinh vật phù du trong ao bùn nên có vẻ chúng được bổ sung đầy đủ khoáng chất.
Đối với cá nước mặn và cá nhiệt đới – thuộc chuyên môn của tôi, chúng ăn kém đi và bơi chậm lại ở nhiệt độ khoảng 20°C hoặc 30°C (có một số loài ngoại lệ). Sự chênh lệch giữa nhiệt độ nước và thân nhiệt của cá trong khoảng ±0.5°C. Do đó, thân nhiệt của cá phụ thuộc vào nhiệt độ nước và điều này cũng liên quan mật thiết đến tốc độ sinh trưởng của Koi. Nhiệt độ cơ thể ảnh hưởng đến chức năng của các enzim và sự trao đổi chất. Nếu nhiệt độ nước tăng lên 10°C, tốc độ trao đổi chất cũng sẽ tăng lên gấp đôi.
Mọi sinh vật sống kể cả cá, đều có nhiệt độ tối ưu. Trong các môi trường tự nhiên khác nhau, động thực vật thích nghi với các điều kiện bất lợi khác nhau để tiến hóa, tồn tại và phát triển. Quá trình này cần một khoảng thời gian dài.
Hiện nay, hiện tượng nóng lên toàn cầu trở thành một trong những vấn đề của xã hội. Dù không thích nghi ngay được với những thay đổi đột ngột của khí hậu và nhiệt độ nhưng nếu có đủ thời gian sinh vật có thể dần thay đổi để thích ứng. Khoảng thời gian tối thiểu là 100 năm, rồi cuối cùng những loài không tồn tại được sẽ bị chọn lọc tự nhiên loại bỏ.
—
Khuyến nghị, chỉ nên thay 1/3 tổng lượng nước mỗi lần. Sự thay đổi đột ngột về nhiệt độ và pH của nước gây ảnh hưởng xấu đến Nishikigoi và làm tăng nguy cơ phát sinh bệnh. Đặc biệt, cá nhiệt đới rất nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ nước và dễ mắc bệnh đốm trắng.
Nishikigoi có sức khỏe tốt nên tôi không nghĩ chúng dễ mắc bệnh đốm trắng, nhưng có thể đây cũng chính là lý do người nuôi Nishikigoi không quan tâm nhiều đến chất lượng nước và nhiệt độ.
Nhiệt độ nước tối ưu cho Koi nằm trong khoảng 20 – 26°C. Tuy nhiên, khi giao mùa hay khi mực nước trong ao giảm cũng gây ảnh hưởng xấu tới chúng, cần lưu ý những điểm này.
Đối với loài cá, sự thay đổi dù chỉ 1°C cũng giống như đối với con người khi nhiệt độ thay đổi 5°C. Ở điểm này, con người có thể khó lý giải được. Một hiện trạng gần đây chính là sự gia tăng nhiệt độ nước dọc bờ biển Nhật Bản. Do hiện tượng ấm lên toàn cầu nên cá bơi khá xa quần đảo Nhật Bản. Thông thường, cá thu đao được đánh bắt cách bờ 300km, nhưng năm nay chúng chỉ xuất hiện ở cách bờ 600km. Những thay đổi của nhiệt độ nước kéo theo những tác động lớn đến loài cá. Chính vì thế, xin hãy luôn lưu ý về nhiệt độ nước trong quá trình nuôi Nishikigoi.

More Stories
Tình hình sản xuất Nishikigoi tại Nhật Bản 2025-2026
Nghệ sĩ Fujimoto Hideshi tái hiện vẻ đẹp Koi / “Web triển lãm nghệ thuật vũ điệu thiên nữ của Koi”
ZNA Việt Nam Young Koi Show & Growth Out 2025 trở lại bùng nổ sau 6 năm vắng bóng