CÁ KOI VIETNAM

GUIDE TO NISHIKIGOI LIFE

Sức mạnh của nguồn nước

Nguồn nước tốt đối với Koi và với người nuôi Koi không phải lúc nào cũng giống nhau. Ngay cả khi nước trong suốt và nhìn có vẻ sạch nhưng chỉ có Koi mới biết được đây có phải chất lượng nước thích hợp cho chúng hay không. Tuy nhiên, bạn có thể nhận biết khi nào điều kiện nước trở nên xấu đi bằng cách quan sát các tín hiệu SOS được phát ra. Để trở thành một người nuôi tốt, có khả năng nhận biết được điều này là một yếu tố vô cùng quan trọng. Trong điều kiện nguồn nước với nhiệt độ ổn định và chất lượng nước tối ưu, một lượng nước nhất định thường được tuần hoàn và sử dụng nhiều lần. Để duy trì chất lượng của nguồn nước trong thời gian dài đòi hỏi phương pháp lọc đúng đắn. Đó là điều chỉnh môi trường chứa đựng những vi khuẩn mà mắt thường không thể nhìn thấy được.

Bây giờ, tôi sẽ giải thích cụ thể hơn. Hầu hết các thành phần hữu cơ được chia thành protein, carbohydrate và chất béo. Carbohydrate và chất béo được vi khuẩn thủy phân thành Carbon dioxide (CO2) và nước. Quá trình này diễn ra khá trơn tru. Lúc này, khí CO2 được đào thải nên độ pH cũng giảm xuống.

Vấn đề là protein được phân hủy theo quá trình như sau.

Protein → Amino → Amoniac → Nitrit → Nitrat

Từ đây các vật chất hữu cơ được chuyển hoá thành các chất vô cơ. Dù chỉ là những vật chất vô hình, và bạn có thể cảm thấy khó hiểu, nhưng việc nắm được kiến thức này là vô cùng cần thiết. Đối với những chất như Amoniac và Nitrit, dù chỉ là một lượng nhỏ cũng có thể gây nên cái chết ở Nishikigoi.

Chính vi khuẩn thực hiện quá trình chuyển hóa nêu trên mà không phải là lưới lọc hay máy lọc. Việc này chỉ có thể diễn ra dưới cơ chế của lọc vi sinh.

Vậy thì để sử dụng lọc vi sinh một cách hiệu quả nhất, điều quan trọng chính là tạo ra một môi trường mà ở đó vi sinh vật có thể phát triển tốt. Sử dụng một không gian trong hồ lọc để trang bị vật liệu lọc thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh.

Mút lọc sinh học (Bio Sponge) là một trong những vật liệu lọc được khuyên dùng, theo tôi biết thì đây là loại tốt nhất ở thời điểm hiện tại.

Mút lọc sinh học phải được làm sạch thường xuyên, nhiều trại nuôi Nishikigoi thực hiện việc này khoảng 2 – 3 tháng/lần. Hầu như không có bụi bẩn, chỉ có một lượng nhỏ “đất màu nâu” tích tụ là chất hữu cơ được chuyển hóa thành vô cơ.

Đây chỉ là trường hợp bạn sử dụng Bacto Power. Nếu bạn không sử dụng Bacto Power, bùn sẽ tích tụ. Và cuối cùng, mút lọc sinh học trở thành nơi thu hút vi khuẩn vì chính vi khuẩn là yếu tố phân giải bùn.

Khi vệ sinh mút lọc sinh học, hãy đảm bảo sử dụng nước từ ao hoặc hồ nuôi. Không bao giờ rửa bằng nước máy có chứa Clo, nguồn nước này sẽ tiêu diệt hoàn toàn vi sinh.

Bacto Power chứa khoảng 10 loại vi sinh. Tuy nhiên, môi trường hoạt động của 10 loại vi sinh này không đồng nhất. Nên hoạt động phân hủy cũng thay đổi tùy thuộc vào nhiệt độ nước, lượng oxy hòa tan, pH… Nói cách khác, dù có nhiều vi sinh nhưng nếu khả năng hoạt động thấp thì cũng không đạt được hiệu quả như mong đợi.

Vậy làm sao để tăng khả năng hoạt động của vi sinh? Hãy điều chỉnh nhiệt độ nước, oxy hòa tan, độ pH, thời điểm cần làm sạch vật liệu lọc và phải vệ sinh đúng cách. Cuối cùng là chọn vật liệu lọc phù hợp cho vi sinh trú ngụ.

Dẫu vậy, không khó để chuẩn bị môi trường phù hợp cho vi sinh. Điều cần thiết là hãy lắp miếng mút sinh học vào bể lọc và rắc Bacto Power lên miếng mút 2 lần/tuần. Nếu vẫn không hiệu quả, có thể do xảy ra sự cố với một trong các yếu tố nêu trên, gồm: nhiệt độ nước, oxy hòa tan, độ pH, thời điểm và phương pháp làm sạch vật liệu lọc.

Ngoài ra, mật độ nuôi đông cũng là một vấn đề (phổ biến ở những bể cá và ao nhỏ).

Đối với môi trường nuôi như thế này, tôi nghĩ biện pháp duy nhất là giảm bớt số lượng Koi, tăng lượng mút lọc, tăng số lần sử dụng Bacto Power. Bacto Power chứa 10 loại vi sinh nhiều chủng loại và tỉ lệ khác nhau. Chính vì vậy, môi trường sinh trưởng của chúng cũng khác nhau.

Nhưng chúng ta hoàn toàn có thể tin vào hiệu quả của Bacto Power. Và hãy luôn lưu ý về sự tồn tại của các vi sinh dù chúng ta không thể thấy được bằng mắt thường.

Mút lọc sinh học

Mút lọc sinh học chính là môi trường trú ngụ của các loại vi sinh phân hủy chất hữu cơ. Sự khác biệt giữa tấm lọc, chổi lọc hồ cá và mút lọc sinh học là có thể hình thành màng lọc sinh học được hay không. Vi sinh trú ẩn trong chính tấm màng lọc sinh học này.

Mút lọc sinh học dựa trên nguyên lý lọc sinh học và chính là vật liệu được nghiên cứu chế tạo để hình thành màng lọc sinh học. Đây là vật chất khó bị tác động bởi tia tử ngoại, cấu tạo không bị biến dạng ngay cả khi ngâm trong nước và tỉ lệ vi sinh thâm nhập cao. Hơn nữa, cấu tạo của nó giúp cho nước bẩn dễ dàng chảy qua các khe lọc.

Ngoài ra, bên trong miếng mút lọc sinh học còn có chứa nhiều loại khoáng chất tự nhiên. Khi cho mút lọc vào nước, các khoáng chất sẽ hòa tan và phát huy tác dụng.

* Sử dụng 2 miếng cho 1 khối nước như hướng dẫn sử dụng

Người xưa có câu: “Nơi thay thì nước đổi”. Câu nói này có ý nghĩa: vùng đất thay đổi thì sản vật cũng có sự khác biệt. Chẳng hạn như có nơi thì nổi tiếng với gạo, lại có nơi nổi tiếng với rượu… Chính bởi nguồn nước mỗi nơi không giống nhau nên sự phát triển của sinh vật cũng sẽ thay đổi. Tương tự, suối nước nóng và nước ngầm khác nhau tùy thuộc vào thành phần khoáng chất chứa bên trong đó.

Nước máy có ít khoáng chất so với nước ngầm (ngay cả dòng nước ngầm nằm sâu trong lòng đất cũng chứa nhiều thành phần khoáng chất). Và ao bùn chứa nhiều khoáng chất hơn cả nước ngầm (tùy thuộc vào sự hình thành của ao bùn và cây trồng xung quanh). Đặc biệt là những khu vực có nước băng tan chảy, nước ngầm tích tụ hoặc nước ngầm phun trào sẽ chứa hàm lượng khoáng chất cao nhất.

Tuy nhiên, không phải nơi nào cũng có thể tiếp cận với nguồn nước tự nhiên lý tưởng đó. Vì vậy, bột khoáng Mineral Plus có thể tái tạo môi trường ao bùn cho nước máy và nước ngầm. Mineral Plus chứa 40 loại khoáng chất với tỉ lệ cân bằng.

Một số khoáng chất trong đó là Cacbon (C), Hidro (H), Oxy (O), Nitơ (N), Photpho (P), Kali (K), Lưu huỳnh (S), Canxi (Ca), Magie (Mg), Sắt (Fe), Đồng (Cu), Mangan (Mg), Kẽm (Zn), Molypden (Mo), Borium (B), Coban (Co), Clo (Cl)…

Sản phẩm bị ion hóa dần tùy thuộc vào nhiệt độ và chất lượng nước.

Điều tôi cảm nhận được trong thời gian kinh doanh tiệm cá nhiệt đới là “các sản phẩm không có cơ sở khoa học đang làm giảm chất lượng nước và gây thiệt hại đến thị trường cá cảnh”. Tôi đã tranh luận nhiều lần với các nhà sản xuất. Đây là một kỷ niệm cay đắng…

Nhưng kể từ thời điểm đó, trong khi vừa tích lũy dữ liệu, chúng tôi đã phát triển và tạo ra những sản phẩm riêng cho cá cảnh. Các sản phẩm được phát triển dựa vào kinh nghiệm đó đã được bán ra, trước tiên là trong ngành Nishikigoi.

Trong vài năm qua, chúng tôi nhận được những yêu cầu từ các nhà sản xuất cá nước ngọt, lươn, cua… Và chúng tôi cũng nhận lại nhiều phản hồi rằng chất lượng nước được cải thiện, năng suất tốt hơn, dịch bệnh giảm mạnh và sự sinh trưởng cũng tăng nhanh. Bản thân tôi rất vui vì đạt được điều này bằng chính nhận thức về tầm quan trọng của vi sinh. Cho đến nay, sự tồn tại của vi sinh vật chỉ được chú ý bởi những người làm việc tại các nhà sản xuất bể tự hoại, xử lý ô nhiễm nước hay các nhà máy lọc nước.

Không phải nguồn nước nào cũng giống nhau. Nishikigoi mạnh mẽ và có sức sống, vì vậy nhiều người không chú trọng đến chất lượng nước. Tôi đã từng và vẫn nghĩ rằng nếu bạn không kiểm soát được chất lượng nước thì không nên nuôi cá, bèo, san hô… Vì chỉ cần lưu ý một chút về yếu tố nước, chất lượng của Nishikigoi sẽ được cải thiện đáng kể! Và hãy sử dụng các sản phẩm của Shinsuke một cách an toàn và bảo đảm.