Lịch sử của Nishikigoi: Bình minh
Lịch sử Nishikigoi có thể tạm chia thành bốn giai đoạn: bình minh, hình thành, phát triển và toàn cầu hóa. Điều đầu tiên thực sự có thể xác nhận mô tả của Nishikigoi là một bài báo địa phương vào năm 1874, đầu thời kỳ Meiji (Meiji 7). Giá của cá chép khi đó rất đắt nếu tính toán kỹ. Nó không phải là giá của cái gọi là cá chép ăn được. Nó được mô tả là một “kaigoi” (cá chép để mua), và có suy đoán rằng phải chăng đây là một loài cá cảnh có màu.
Hơn nữa, một tờ báo cùng thời năm 1877 (Meiji 10) đã đăng một bài viết về việc buôn bán cá chép đang diễn ra sôi nổi. Vậy nên nếu Nishikigoi trở nên phổ biến và được biết như một hình thức thương mại trong thời kỳ này thì lịch sử Nishikigoi phải sớm hơn thế nữa. Dù không có ghi chép chính xác nhưng tôi nghĩ lịch sử của Nishikigoi có lẽ là 200 năm trước hoặc lâu hơn một chút.
Tên gọi Nishikigoi vẫn chưa xuất hiện tại thời điểm này. Vào năm 1877, có một ghi chép cho rằng giá cả khác nhau tùy vào hoa văn khác nhau, cũng có thông tin cho rằng vào năm sau, giao dịch trở nên sôi động và mang tính đầu cơ, nghi ngờ rằng cá chép cũng là đối tượng để kiếm tiền. Về chợ cá chép, có ghi chép chúng từng được tổ chức tại Mushikame, thành phố Nagaoka.
Năm 1880 (Meiji 13), những người buôn bán cá chép xuất hiện. Có thể gọi đây là các đại lý cá chép. Có ghi chép cho rằng họ đã đặt tên và bán cá chép có nhiều hoa văn khác nhau.
Năm 1890 (Meiji 23) là một năm quan trọng trong lịch sử của Nishikigoi. Ông Kunizo Hiroi ở thành phố Ojiya, người được gọi là “Gosuke của Ranki”, đã tạo ra giống cá chép màu đỏ và trắng. Đây là giống đại diện bắt đầu nền văn hóa Nishikigoi hiện đại.
Năm 1904 (Meiji 37), cuối thời Meiji, cá chép không vảy của Đức còn được gọi là leather carp trong tiếng Anh, đã được nhập khẩu. Đây không phải do Niigata mua vào mà được Bộ Nông nghiệp và Thương mại Nhật Bản nhập khẩu nhằm tập trung vào khả năng tăng trưởng và tác dụng tăng thịt của cá chép Đức khi áp dụng công nghệ hiện đại. Trên thực tế, điều này đã góp phần rất lớn vào sự phát triển của Nishikigoi.
Ngày nay, có rất nhiều giống Nishikigoi từ Đức và chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng số lượng giống. Nishikigoi phát triển như một phần văn hóa truyền thống Niigata, Nhật Bản, nhưng phải nói là những kiến thức và kỹ thuật thu được từ nước ngoài cũng đã từng được áp dụng.
Năm 1906 (Meiji 39), Yoshigorou Akiyama, một thương gia buôn cá vàng ở Fukagawa, Tokyo, đã lai giữa cá chép Đức và cá chép Asagi để tạo ra giống Shusui. Tuy nhiên, như tôi đã đề cập trước đó, Nishikigoi vào thời điểm đó vẫn chưa có tên Nishikigoi và chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như cá chép lạ, cá chép màu, cá chép hoa văn.
Lịch sử của Nishikigoi – Bình minh của Nishikigoi
Năm 1874 (Meiji 7)
- Gia đình Kikuiri ở “Nigorizawa” (nay là thành phố Nagaoka) đã gửi 16 con “cá chép nuôi” lớn nhỏ đến Tokyo, thu được lợi nhuận 33 yên [Ủy ban biên tập lịch sử làng Yamakoshi 1985 : 345]
- Đó là thời kỳ mà 1 thạch gạo (xấp xỉ 150 kg) có giá trung bình là 7,28 yên [Biên tập Ishihara 1925 : 101]
- Lợi nhuận từ cá chép là 33 yên tương đương với khoảng 4,5 thạch (khoảng 680 kg)!
- Dù có nghĩ thế nào, thì nó cũng không phải là cá chép dùng để ăn
Khoảng tháng 10/1877 (Meiji 10)
- Cá chép được buôn bán sôi động và giá cả thay đổi tùy vào những đốm màu đỏ tươi và mảng màu. Có thông tin cho rằng một con cá chép có giá từ 5 đến 20 yên (“Niigata Shinbun”)
Khoảng tháng 10/1878 (Meiji 11)
- Hoạt động mua bán trở nên sôi động và mang tính đầu cơ
- Chợ cá chép được thành lập tại làng Mushigame (nay là Thành phố Nagaoka)
Tháng 12 năm 1880 (Meiji 13)
- Những người buôn cá chép ở Yamakoshi đã đặt nhiều biệt danh khác nhau cho chúng, những con cá chép có hoa văn màu đỏ và chàm trên nền trắng gọi là “sanmo” (ba mẫu), “yonmo” (bốn mẫu), một con có giá thị trường từ 50 đến 70 yên và đã thu hút sự chú ý của nhiều người
Năm 1890 (Meiji 23)
- Ông Kunizo Hiroi, thành phố Ojiya (Gosuke của Ranki), sản xuất Kohaku
- Sự ra đời của các giống liên quan đến Nishikigoi hiện đại
Năm 1904 (Meiji 37)
- Giới thiệu cá chép Đức (cá chép không vảy) của ông Shinnosuke Matsubara, Giám đốc Viện Đào tạo Nghề cá của Bộ Nông nghiệp và Thương mại
- Tác dụng tăng trưởng và vỗ béo. Đóng một vai trò trong việc tăng sự đa dạng của Nishikigoi
Năm 1906 (Meiji 39) - Thương gia cá vàng tại Tokyo, ông Yoshigorou Akiyama. Đức x Asagi = Shusui
Lịch sử Nishikigoi: Hình thành
Thời kỳ Taisho từ những năm 1910 đến những năm 1920 là thời kỳ Nishikigoi biến đổi rất nhiều. Năm 1912 (Taisho 1), cuộc thi Nishikigoi được bắt đầu với quy mô nhỏ.
Năm 1914 (Taisho 3) là một bước đột phá lớn. Triển lãm Tokyo Taisho được tổ chức tại công viên Ueno ở Tokyo và Nishikigoi đã được trình diện. Nó được gọi là cá chép lạ và được vinh danh với huy chương bạc.
Nghe nói có một câu chuyện đằng sau. Có phải sự thật hay không thì không chắc, nhưng khi Thân vương Hirohito bấy giờ, người sau này trở thành Thiên hoàng Showa vẫn còn là học sinh trung học đã nhìn Nishikigoi bên bờ ao và không chịu rời đi. Sau chuyện Thân vương không rời đi ngay cả khi người hầu nói “Thưa người, đã đến lúc rời đi rồi” thì người ở làng Higashiyama và làng Takezawa đã dâng tặng Koi đến cung điện Hoàng gia qua Tử tước Makino, lãnh chúa Nagaoka thứ 15 và thị trưởng đầu tiên của thành phố Nagaoka. Những chuyện này đã trở thành lời quảng cáo mạnh mẽ dù lúc này Nishikigoi vẫn được gọi là Kawarigoi nhưng sự tồn tại của nó đã được cả thế giới biết đến.
Ngoài ra, vào năm 1916 (Taisho 5), ông Kei Abe, giám đốc thủy sản tỉnh Niigata được cho là đã thuyết trình về định luật Mendel quanh làng Yamakoshi. Khi người dân Yamakoshi biết về di truyền học, họ đã chuyển từ lai giống thuần chủng sang lai tạo, nói chung là họ đã bắt đầu lai các cá thể khác nhau nhờ vậy mà đã xuất hiện những giống mới. Nishikigoi được sản xuất bằng cách kết hợp các kỹ thuật truyền thống của khu vực với kiến thức khoa học mới từ nước ngoài. Vậy nên thời đại Taisho chính xác là thời kỳ mà Nishikigoi được hình thành.
Năm 1918 (Taisho 7), một giống mới đã ra đời thông qua việc lai tạo. Đó chính là Taisho Sanshoku (Taisho ba màu). Truyền thuyết nói rằng, ông Abe khi nhìn thấy con cá chép này đã đặt tên cho nó là Nishikigoi bởi nó “trông đẹp như gấm”.
Sau đó, việc sử dụng cái tên Nishikigoi để quảng cáo nhiều hơn. Nhiều điều thú vị xảy ra trong quá trình hình thành của Nishikigoi, ví dụ như việc chúng được xem như quà tặng để gửi đi nước ngoài. Chúng được gửi đến Mỹ vào năm 1918. Năm 1926 (Taisho 15), The Japanese American News đăng một bài báo có tiêu đề “Cá vàng và cá chép màu”. Những gì được viết trên đó là: Calvin Coolidge, Tổng thống thứ 30 của Hoa Kỳ đã xây dựng một bể cá lớn trong Nhà Trắng và cho cá chép màu (Nishikigoi) bơi trong đó, những người đến thăm đều thấy mới lạ và đề tài này trở nên sôi nổi hơn. Ngoài ra, cũng từng có những đơn đặt hàng đến từ Bảo tàng Sydney ở Úc nói rằng họ vô cùng hoảng loạn vì đã hết Nishikigoi. Chuyện như vậy thực sự đã xảy ra.
Hai năm sau, vào năm 1928 (Showa 3), 25.000 Nishikigoi gồm Higoi, Shusui, Sanshoku… đã được thả vào hào nước của Hoàng cung để kỷ niệm sinh nhật lần thứ 88 của ông Eiichi Shibusawa. Trong thời này, Nishikigoi được sử dụng để ngoại giao đồng thời chúng được giới quý tộc và tầng lớp thượng lưu yêu thích. Các thành viên của “Triển lãm Koi màu” được tổ chức tại Shinjuku Isetan đều là những quý tộc, ví dụ như Tử tước Souma và Kuninomiya (Hoàng tộc).
Năm 1939 (Showa 14), tại triển lãm The Golden Gate International Exposition tại Mỹ, chúng cũng được mang đến như là sứ giả hòa bình. Tuy nhiên, thật không may là hai năm sau Nhật Bản đã lao vào Thế chiến II và Chiến tranh Thái Bình Dương. Do đó, việc sản xuất Nishikigoi dừng lại. Để tăng sản lượng lương thực, người ta bắt đầu hợp tác sản xuất cá chép thực phẩm.
Nishikigoi được cho là biểu tượng của hòa bình vì chúng không biết gây hấn, và nếu nhìn vào thực tế mà nói thì chúng chắc chắn là loài động vật chỉ có thể sống trong hòa bình. Nếu Thế chiến II kéo dài hơn, văn hóa Nishikigoi có lẽ đã biến mất. Nishikigoi là loài cá sống trong thời bình và bơi lội trong thời bình. Chiến tranh là kẻ thù của Nishikigoi. Điều dĩ nhiên là những các quốc gia đang có chiến tranh sẽ không thảnh thơi để nuôi dưỡng hay thưởng thức Nishikigoi. Nơi có thể yêu chúng chỉ có thể là đất nước hoà bình. Tưởng chừng văn hóa Nishikigoi sẽ lụi tàn giữa tình cảnh khốn khó, nhưng sau khi chiến tranh Nhật Bản thất bại năm 1945 (Showa 20), nó lại một lần nữa đứng lên và phát triển.
Lịch sử của Nishikigoi – Thời kỳ hình thành của Nishikigoi
Năm 1916 (Taisho 5)
- Ông Kei Abe, Giám đốc Thủy sản tỉnh Niigata đã thuyết trình về định luật Mendel tại làng Takezawa (nay là thành phố Nagaoka).
- Kể từ đó, công nghệ cải tiến đã lan rộng từ nhân giống thuần chủng sang lai giống
Năm 1918 (Taisho 7)
*Một số người cho rằng năm 1917 chỉ là giả thuyết
- Taisho Sanshoku được tạo ra.
- Kei Abe, Giám đốc Thủy sản tỉnh Niigata đã đặt tên là “Nishikigoi” sau khi nhìn thấy Taisho ba màu.
- Ông Kikuo Inoue điều hành một cửa hàng cá cảnh trên sân thượng của cửa hàng bách hóa Takashimaya tại Nihonbashi, Tokyo, đã đặt tên cho nơi này là Bộ phận Takashimaya Nishikigoi, đồng thời quảng cáo và bán cá chép cảnh với tên gọi Nishikigoi
- Tổ chức triển lãm tại khu vực Keihan
Năm 1941 (Showa 16)
- Trong Thế chiến II, các hoạt động sản xuất Nishikigoi bị xem là hoạt động xa xỉ nên đã bị hạn chế
- Nỗ lực thả cá chép ra sông để tăng sản lượng lương thực
- Nishikigoi là loài cá sống trong thời bình
- Chiến tranh là kẻ thù của Nishikigoi

More Stories
Quản lý nuôi dưỡng tại Sakai Fish Farm / Bối cảnh đằng sau những chú cá chép danh tiếng
Hội thảo Nishikigoi – Taisho Sanshoku – Lần1
Tình hình sản xuất Nishikigoi tại Nhật Bản 2025-2026